Lí thuyết và bài tập Ngữ Văn 12, Bài 9. Tổng kết phần tiếng việt hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
– Ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp ở hai dạng: nói và viết. Hai dạng ngôn ngữ này khác nhau về phương tiện và cách thức sử dụng.
– Nhân vật giao tiếp là nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp. Những đặc điểm về vị thế, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, văn hoá… của nhân vật giao tiếp luôn chi phối nội dung và cách thức giao tiếp.
– Câu trong giao tiếp thường có hai loại nghĩa: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái. Nghĩa miêu tả là loại ý nghĩa biểu thị sự việc được nói đến trong câu. Nghĩa tình thái là thành phần ý nghĩa biểu thị thái độ, cách đánh giá của người nói với sự việc được nói đến trong câu hoặc với người nghe.
*. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Giao tiếp hội thoại và giao tiếp độc thoại khác nhau ở những điếm nào?
Giao tiếp hội thoại và giao tiếp độc thoại khác nhau ở chỗ:
– Giao tiếp hội thoại có sự đổi vai liên tục giữa người nói và người nghe (người nghe trở thành người nói và ngược lại), tức là có sự luân phiên lượt lời. Giao tiếp đơn thoại (độc thoại) người nói giữ vai trò người truyền thông tin, người nghe giữ vai trò là người nhận tin từ đầu đến cuối cuộc giao tiếp.
– Đề tài trong giao tiếp hội thoại có thể là một cũng có thể là nhiều đề tài do trong quá trình giao tiếp đề tài được chuyển hướng. Giao tiếp đơn thoại thường chỉ tập trung vào một đề tài.
– Giao tiếp hội thoại cho phép sử dụng khá tự do các yêu tố phụ trợ đi kèm như: cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt… kèm ngữ điệu. Giao tiếp đơn thoại việc sử dụng các yếu tố này bị hạn chế hơn.
2. Thế nào là hoàn cảnh giao tiếp và tình huống giao tiếp?
3. Em hiểu thế nào là đề tài giao tiếp?
4. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung của toàn xã hội và lời nói của cá nhân?
Ví dụ: không thể nói: vo đầu, gội gạo trong cộng đồng người Việt. Mỗi cá nhân có thể lựa chọn trong kho ngôn ngữ của cả cộng đồng những đơn vị giao tiếp cần thiết để tạo ra những phát ngôn phù hợp với mục đích giao tiếp của mình.
5. Em hiểu thế nào về những cách diễn đạt kiểu như “ngôn ngữ của Nguyễn Tuân”, “ngôn ngữ của Nguyễn Du”?
Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, cá nhân (nhất là những người nắm được bản chất và đặc điểm của ngôn ngữ mà họ đang sử dụng) có thể sáng tạo ra những cách dùng từ mới, những cách diễn đạt mới làm phong phú, sinh động thêm vốn ngôn ngữ chung. Những sáng tạo về ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học là một ví dụ tiêu biểu cho vấn đề này.
6. Thế nào là nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong giao tiếp?
7. Chỉ ra các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp (rộng và hẹp) hiện thực được nói tới (đề tài giao tiếp) trong cuộc thoại sau:
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
“Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp-phố mà mong châu về”
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi.
Chiếc thoa nào của mấy mươi,
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”
Cuộc giao tiếp của Thuý Kiều và Kim Trọng trong đoạn thơ.
Cuộc giao tiếp của Thuý Kiều và Kim Trọng trong đoạn thơ.
– Hoàn cảnh giao tiếp rộng là thời đại phong kiến (qua cách nói năng của hai nhân vật giao tiếp: quân tử, điển tích châu về Hợp phố).

Leave a Reply