Phân tích truyện ngắn Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu

0

Phân tích truyện ngắn Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu

Loading...
Qua cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật Nhĩ, chúng ta hiểu được triết lí về cuộc đời mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm: Hãy cổ gắng tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp bình dị mà quý giá ẩn chứa trong những điều quen thuộc, gần gũi nhất của gia đình và quê hương. “Bến quê” là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Những cảm xúc chiêm nghiệm của nhà văn được thể hiện bằng ngôn ngữ tự nhiên hàm súc, có sức lay động tâm hồn người đọc.

I. Dàn ý
1. Mở bài

* Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm:
– Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An.
– Tham gia bộ đội trong kháng chiến chống Pháp từ năm 1950. Trở thành nhà văn quân đội với những tác phẩm nổi tiếng sáng tác vào thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước: Cửa sông, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng… Năm 2000, ông được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
– Bến quê là truyện ngắn in trong tập truyện cùng tên. Xuất bản năm 1985, nội dung chứa đựng những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn trước cuộc đời, thức tỉnh mọi người về những vẻ đẹp về giá trị cao quý của những điều bình dị, gần gũi quanh ta.

2. Thân bài:
1. Cảm nhận của nhân vật Nhĩ trước vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc của bến quê

– Tình huống đặc biệt: Anh Nhĩ đã đi hầu hết các nơi trên thế giới, mấy năm nay không may mắc phải căn bệnh hiểm nghèo nên phải sống nốt quãng đời còn lại trên chiếc giường kẻ cạnh cửa sổ, trông ra bến sông.
– Chính vào thời điếm ấy, anh đã phát hiện ra nơi bến quê quen thuộc một vẻ đẹp giản dị mà vô cùng quyến rủ.
– Nhĩ khao khát được một lần đặt chân lên bờ bãi bên kia sông, mảnh đất giờ đây đã trở nên xa vời  đối với anh.
– Anh đành nhờ con trai thực hiện giúp mình ước muốn ấy nhưng con trai lại quá vô tình, không hiếu được ý định của bố. Nhĩ sợ con sẽ lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày.
– Tử trong cửa sổ nhìn ra, Nhĩ thấy cảnh vật thiên nhiên thật đẹp: tiết trời đầu thu, màu nước sông Hồng, vòm trời cao, những tia nắng ấm, bờ bãi bên kia sông, màu xanh cây lá …Anh say mê thưởng thức như mới được nhìn thấy lần đầu.

2. Những suy nghĩ của Nhĩ về con người và cuộc đời

– Khi sắp giã biệt cuộc đời, Nhĩ mới thấm thìa về phẩm chất tốt  đẹp, dung dị của người vợ hiền thục, tần tảo, giàu đức hi sinh.
– Anh nhận ra rằng gia đình có vai trò rất lớn đối với mỗi con người và là nơi nương tựa đáng tin cậy nhất. Gia đình được tạo nên từ  những điều tưởng như bình thường nhưng vô cùng đáng quý.
– Người ta thường dễ bỏ qua những giá trị bền vững và sâu sắc của cuộc sống, lúc thức tỉnh thì đã quá muộn màng.

3. Kết bài

– Qua cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật Nhĩ, chúng ta hiểu được triết lí về cuộc đời mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm: Hãy cổ gắng tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp bình dị mà quý giá ẩn chứa trong những điều quen thuộc, gần gũi nhất của gia đình và quê hương.
“Bến quê” là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Những cảm xúc chiêm nghiệm của nhà văn được thể hiện bằng ngôn ngữ tự nhiên hàm súc, có sức lay động tâm hồn người đọc.

II. Bài làm
Bài làm 1:

Văn học và đời sống là những vòng tròn đổng tâm mà tâm điểm là con người”. Với quan niệm về hiện thực luôn gắn với tinh thẩn nhân bản như thế, Nguyễn Minh Châu đã rất thành công trong việc khám phá và thể hiện con người. Trong khói lửa chiến tranh, mỗi con người là một kho báu, Nguyễn Minh Châu luôn đi tìm “những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người”. Còn sau chiến tranh, người “mở đường đầy tài hoa và tinh anh” nhận định: “cuộc đời đa sự, con người đa đoan”. Có những biến thiên, trắc trở, những nghịch lí ngẫu nhiên mà chúng ta không thể nào lường trước, nó nằm ngoài ước muốn, dự định, sự hiểu biết và toan tính của con người. Quy luật đời sống ấy được nhà văn gửi gắm vào nhân vật Nhĩ – một nhân vật tư trưởng trong truyện ngắn Bến quê mà đoạn trích “Ngay lúc ấy,… lời lẽ không bao giờ giải thích hết” đã thể hiện khá đầy đủ và rõ ràng.
Đó là những suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con người sau những trải nghiệm của chính mình và của nhân vật. Trải nghiệm là trải qua rất nhiều việc, nhiều chuyện để từ đó nghiệm ra nhiều điểu. Trải nghiệm đem đếm cho chúng ta không chỉ là tri thức mà còn là những kĩ năng và thái độ sống tích cực. Người sống nhiều nhất không phải người sống lâu nhất, mà là người trải nghiệm nhiều nhất, vẻ đẹp của trải nghiệm chính ở sự thức tỉnh – thức tỉnh bản thân khỏi những điểu xa vời mà lãng quên đi cuộc sống bình dị, gần gũi xung quanh. Đối với Nguyễn Minh Châu, qua hình tượng nhân vật Nhĩ, vẻ đẹp ấy còn ở sự thức tỉnh độc giả, thức tỉnh rất nhiều người có thể đã trải qua, đang trải qua hoặc sẽ vấp phải nó như một quy luật muôn đời.
Thể hiện điểu đó, nhà văn đặt nhân vật của mình trong một cảnh ngộ éo le. “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” nhưng lại chưa một lần đặt chân đến bãi bồi bên kia sông Hồng, ngay trước cửa nhà mình. Đã từng tung hoành ngang dọc suốt thời trai trẻ nhưng những ngày cuối đời Nhĩ lại bị cột chặt vào chiếc giường vì căn bệnh quái ác. Và phải đến lúc này, anh mới chợt nhận ra vùng đất bên kia sông, nơi bến quê thần thuộc chứa đựng một vẻ đẹp bình dị mà quyến rũ, mới thấy miếng vá trên tấm áo của Liên, mới ngắm nhìn thằng con thứ hai và thấy mình trong ấy. Trên con đường đời có quá nhiều điều “vòng vèo hoặc chùng chình” đã chiếm trọn thời gian, khiến anh chẳng thể nghiệm ra những vẻ đẹp gần gũi, bình dị như sức thu hút, sự hấp dẫn của bãi bồi bên kia sông, như tình yêu, sự tảo tần và đức hi sinh của người vợ. Đến khi nghiệm ra rồi, Nhĩ chỉ có khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia, được cảm nhận và trân trọng những nét đẹp bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống.
Đó là vẻ đẹp trải nghiệm trong cảm nhận cảnh vật. Những cảnh vật vốn gần gũi, thân quen, ngày nào cũng có, mùa nào cũng tới nhưng chỉ đến bầy giờ Nhĩ mới thấy được, mới lần đầu gặp được. Đó là vẻ đẹp bình yên trong những “cánh buồm vừa bắt gió căng phồng lên” trên dòng sông quê hương. Nơi có những “bông hoa bẵng lăng đã thưa thớt”, nơi được “tiết trời đầu thu đem đến một màu đỏ nhạt, lòng sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hổng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – Những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”, vẻ đẹp của chân trời gần gũi ấy đến hôm nay Nhĩ mới cảm nhận được. Cảm nhận bằng trái tim và sự từng trải trong cuộc đời. Nếu không có những ngày cuối đời sống chậm lại, suy nghĩ khác đi, có lẽ Nhĩ vẫn chưa phát hiện ra vẻ đẹp của quê hương gần gũi, của xứ sở thân thương ẩn sau nét đơn sơ, tiêu điểu và hoang vắng, dù cho vẻ đẹp ấy chính là chân giá trị đích thực, nâng đỡ, ấp ôm mỗi con người, là nơi để trở về, để được sống trọn vẹn trong yên bình sau nhưng hối hả, tất bật, bon chen.
Vẻ đẹp của mảnh đất ấy thể hiện trong cả những cảnh sinh hoạt bình dị. Đó là “Sát bên bờ của dải đất lở dốc đứng bên này, một đám đông khách đợi đò đứng nhìn sang. Người đi bộ, người dắt xe đạp. Một vài tốp đàn bà đi chợ về đang ngồi kháo chuyện hoặc xổ tóc ra bắt chấy”. Hình ảnh bình dị của cuộc sống dường như luôn có giá trị thức tỉnh mạnh mẽ với mỗi người. Cách đây mấy chục năm, Chí Phèo cũng tìm lại phẩn nhân tính còn lại trong mình từ chính thanh âm của cuộc sống đời thường. Một con người bị tha hóa cả về nhân hình lẫn nhân tính, một con người không còn nhớ mình bao nhiêu tuổi, tìm lại khao khát làm người lương thiện từ “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng của mấy bà đi chợ về”. Những thanh âm ấy, cũng như hình ảnh cuộc sống bên dòng sông Hồng của Nhĩ, ngày nào cũng diễn ra, ngày nào cũng ngân nga, chỉ là mỗi người có dừng lại để lắng nghe, để cảm nhận bình yên từ những điều nhỏ bé, giản đơn.
Giây phút nhận ra những vẻ đẹp trân quý ấy, Nhĩ nghĩ về người con trai thứ hai và hành trình đi đến bãi bồi bên kia sông, cũng như hành trình đi đến những giá trị đích thực, bền vững. “Nhĩ nhìn mãi đám khách nhưng vẫn không thấy cái mũ cói rộng vành và chiếc sơ mi màu trứng sáo đâu cả”. Bởi lúc này, “con trai của anh chỉ mới đi được đến hàng cây bằng lăng bên kia đường”. Thằng bé vẫn không thoát khỏi những cám dỗ của tuổi trẻ, nhất là khi chính nó cũng không hiểu bản thân mình đi sang bên kia sông để làm gì và chỉ “miễn cưỡng” làm cái “việc gì lạ thế”. Nhĩ như nhìn thấy mình năm xưa trong hình ảnh của con, anh cũng từng “không dứt ra được” những lần phá cờ thế trên hè phố, cuốn mình vào những niềm vui, tham vọng của tuổi trẻ – tuổi còn thiếu mạnh mẽ và chưa đủ tỉnh táo nên dễ bị cuốn vào vòng xoáy cuộc đời với những “vòng vèo và chùng chình” ngăn cản bước ta đi. Tuổi trẻ còn thiếu những kinh nghiệm, chưa “từng trải”, chưa “từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ” nên chưa “nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia”, nên một lần thảnh thơi đến bờ bên kia cảm nhận cái đẹp, thể hiện và đón nhận tình yêu của mảnh đất quê hương chưa thể là niềm say mê và chưa được thực hiện. Vì thế mà có thể sẽ “trễ mất chuyến đò trong ngày”, bỏ lỡ cơ hội vốn đã dễ dàng đạt được.
Từ hình ảnh người con trai, bằng sự trải nghiệm trong chính cuộc đời mình, Nhĩ rút ra một triết lí sâu sắc vê’ cuộc đời: “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình” nhưng con người cẩn vứt bỏ những “vòng vèo, chùng chình” ấy để hướng tới những giá trị đích thực, gần gũi mà bền vững. Chính vì lí do đó, anh “thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát” ra hiệu cho con trai mau thoát khỏi những cám dỗ kia mới kịp chuyến đò. Cái khoát tay đẩy sức ám ảnh đó gieo vào lòng mỗi chúng ta những băn khoăn, trăn trở trên đường đời. Liệu rằng chúng ta có đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ kia hay sẽ giống như anh con trai của Nhĩ, bỏ lỡ chuyến đò, bỏ lỡ những điểu bình dị tốt đẹp? Và liệu rằng, sau những lần bỏ lỡ ấy ta có thể tìm lại khao khát về một miền đất quen thuộc, gần gũi rồi đi đến đó hay sẽ như Nhĩ, dù đã cảm nhận được nhưng không thể nào đặt chân đến được nữa?
Được gửi gắm chiêm nghiệm về quy luật cuộc đời từ các nhà văn, nhân vật tư tưởng thường không được chú trọng làm nổi bật tính cách, dễ trở thành cái loa phát ngôn, nhưng bằng sự hiểu biết lẽ đời và khả năng phân tích tầm lí tinh tế của Nguyễn Minh Châu, nhân vật Nhĩ không khô cứng, thiếu sức sống mà ngược lại, rất gần gũi, thân quen và để lại bài học đầy ám ảnh. Không chỉ là nghệ thuật phân tích tâm lí, Nguyễn Minh Châu còn hướng về những vẻ đẹp trong sáng và giàu sức trữ tình. Đó là bức tranh thiên nhiên, được miêu tả bằng ngòi bút tinh tế, gợi cảm, là những hình ảnh giàu tính biểu tượng. Trận cờ thế là cám dỗ của cuộc đời, là những “vòng vèo, chùng chình”, chuyến đò qua sông là cơ hội mà chúng ta dễ bỏ lỡ, cảnh vật bên sông và hình ảnh của cuộc sống sinh hoạt là vẻ đẹp bình dị, đơn sơ, là những giá trị đích thực con người cần hướng tới. Xiết bao hình ảnh biểu tượng đặt cạnh nhau đưa suy ngẫm, trải nghiệm của nhà văn đến gần hơn với người đọc.
Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, phải chăng nhân vật Nhĩ tiếc nuối trong niềm say mê xen lẫn hối hận. Nếu ở trong hoàn cảnh của Nhĩ, người anh mong ước được gặp nhất có lẽ là Liên – người vợ tảo tần, giàu đức hi sinh, người mà suốt cả cuộc đời Nhĩ đã làm “khổ tâm”, người vẫn giữ nguyên vẹn những giá trị đích thực để cuối cùng, sau tháng năm bôn tẩu tìm kiếm, Nhĩ đã thấy được nơi nương tựa là gia đình. Và có lẽ, Nhĩ sẽ cùng Liên đi đến bãi bổi bên kia chẳng để làm gì cả, chỉ “đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân” ngắm nhìn, cảm nhận cái vẻ thanh bình của chốn quê hương, xứ sở.
Dù phải ngừng bút vào cái lúc mà tài năng và tư tưởng đạt đến độ chín nhưng Nguyễn Minh Châu đã đem lại sự khích lệ to lớn cho những tìm tòi sáng tạo của nhà văn; những bài học triết lí, sâu sắc; những chiêm nghiệm về cuộc đời cho độc giả. Bến quê cùng nhân vật Nhĩ và nhiều sáng tác khác của ông là di sản quý trong nền văn học hiện đại Việt Nam và là lời nhắc nhở yêu thương, chân tình cho biết bao thế hệ người đọc.
“Mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường”: Chân dung ấy, màu sắc ấy mang khát vọng, mong ước dâng trào ở vào những phút giây cuối đời. Hai mắt long lanh chứa một nỗi mê say đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ… cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại… giơ một cánh tay gầy guộc ra… khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó, những cử chỉ biểu hiện sự thúc giục đứa con trai rời khỏi “đám người chơi phá cờ thế trên hè phố” – những dấu hiệu yêu cầu con trai đừng “vòng vèo hoặc chùng chình” để khỏi lỡ chuyến đò. Nhĩ lo sợ không chứng kiến được con trai mang mong ước của anh đặt chân lên bãi đất bồi. Ngay lúc bây giờ, chiếc đò ngang, vừa chạm mũi vào cái hờ đất lở dốc đứng phía bên này. Không biết thằng con trai có kịp chuyến đò; không biết Nhĩ có tận mắt nhìn đứa con trai thân yêu đặt chân lên bãi bồi bên kia sông hay con đò trở thành biểu tượng chở vong hồn với nỗi khát khao của anh qua sông, tới cõi vĩnh hằng…
Bến quê thấm đẫm nỗi buồn cửa nhân vật Nhĩ nói riêng, của kiếp người nói chung.

Truyện mang đến cho người đọc thông điệp đầy ý nghĩa trong đời sống:

Nơi gần nhất thì lại là chỗ xa nhất vì thái độ thờ ơ, rẻ rúng.

Đi khắp nơi, trải nghiệm nhiều mới thấy gia đình, quê hương là nơi gần gũi nhất, đáng quý nhất. Khi nhận ra được điều ấy thì coi chừng sẽ như nhân vật Nhĩ: lại sắp phải “đi xa”!

Bài làm 2:

Nhà thơ Đỗ Trung Quân từng có một định nghĩa bằng thơ rất hay về quê hương:
“Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay…”
Thực vậy, trên thế gian này có bao nhiêu con người thì có bây nhiêu cách định nghĩa khác nhau về quê hương. Nhưng hiểu một cách chung nhất, quê hương là điểm đến của tâm linh, điểm về của mọi xáo trộn tâm hồn và là nơi để ta có thể nương tựa sau những vấp ngã, khó khăn trên đường đời. Bởi đơn giản quê hương chính là nơi lưu giữ những kỉ niệm ngọt ngào và là nơi luôn tồn tại những tấm lòng giàu tình yêu thương, sẵn sàng dang rộng vòng tay để đón chúng ta vào lòng. Cũng nhận ra được điều đó, Nguyễn Minh Châu – một nhà văn luôn có những suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời đã viết lên truyện ngắn “Bến quê” (1985) nhằm thức tỉnh người đọc biết nhận ra và biết trân trọng những vẻ đẹp gần gũi, bình dị, vững bền và quý giá của gia đình, quê hương.
Truyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng toàn bộ diễn biến câu chuyện được nhìn qua lăng kính tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Nhĩ với một hoàn cảnh đặc biệt: sắp giã từ cuộc đời. Vì thế, làm cho dòng trần thuật chuyển hóa thành dòng độc thoại nội tâm với những suy ngẫm, triết lí khái quát về con người và cuộc đời của Nhĩ. Từ đó, giúp cho câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, đồng thời toàn bộ tư tưởng, chủ đề của truyện được truyền tải một cách dễ dàng, tự nhiên, gần gũi và sâu sắc.
Trước hết, truyện ngắn “Bến quê” đã được nhà văn tạo dựng bằng một tình huống truyện độc đáo mang đầy những nghịch lí, éo le. Nhĩ – một con người đã từng chu du đi khắp nơi trên trái đất với bất kể xó xỉnh nào anh cũng đã từng đặt chân tới nhưng đến phút giây cuối đời anh lại phải cột chặt thân mình bên giường bệnh. Và khi phải bó mình trên chiếc giường chật hẹp, không đi lại được anh mới chợt nhận ra vẻ đẹp giàu có của bãi bồi bên kia sông Hồng – nơi mà anh chưa từng đặt chân đến và vẻ đẹp tâm hồn của người vợ nhưng tiếc thay đã quá muộn màng. Tạo ra một tình huống nghịch lí ấy, tác giả muốn hướng tới một nhận thức mang tính chiêm nghiệm: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, nghịch lí, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của con người. Do không thể trực tiếp thực hiện được khát vọng đi tới “miền đất mơ ước” ấy, nên Nhĩ đã nhờ vả đứa con trai thay mình đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Nhưng cậu bé đã không hiểu được ý cha nên nó chịu đi một cách miễn cưỡng và rồi bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế bên dọc đường, có thể làm lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Anh nhớ lại thời trai trẻ của mình cũng ham chơi như thế, vả lại nó cũng chưa nhận ra sự hấp dẫn bên kia sông, nên anh không hề trách cậu bé. Từ đó, anh rút ra một triết lí có tính chất tổng kết, chiêm nghiệm về qui luật của cuộc đời con người: “Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Nhĩ một con người của thời đại mới chỉ biết chạy theo những ước vọng xa vời mà lãng quên đi những vẻ đẹp bình dị, thân quen mà mình đang có. Để rồi khi vấp ngã, khi phải sắp chia xa với cuộc sống này vĩnh viễn thì anh mới chịu nhận ra quê hương, gia đình, người vợ mới là bến đậu, là nơi nương tựa bình yên và vững chắc nhất cho con người sau hành trình đi xa trở về. Mặc dù nhận thức của Nhĩ dẫu có chút muộn màng nhưng dù sao anh cũng đã kịp nhận ra trước sự sai lầm của mình, giúp anh cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng.
Cuối truyện, nhà văn miêu tả chân dung và hành động của Nhĩ với vẻ không bình thường: “mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai con mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy. Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”. Hành động đó của Nhĩ thể hiện sự nôn nóng, thức giục con trai hãy mau mau đi đi không lại lỡ mất chuyến đò. Hay đó chính là điều mà tác giả muốn gửi gắm cho chúng ta đừng để mất thời gian vô ích cho những cái “chùng chình”, “vòng vèo” trên đường đời mà hãy hướng tới những giá trị đích thực, giản dị, bền vững quanh ta.
Trong truyện, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng rất nhiều những hình ảnh, chi tiết mang tính biểu tượng, có sức chứa đựng khái quát về tư tưởng, chủ đề của truyện với hai lớp nghĩa: tả thực và tượng trưng. Mở đầu truyện là hình ảnh thiên nhiên rất đẹp, thơ mộng với bãi bồi bên kia sông Hồng của tiết trời đầu thu trong buổi sớm bình minh. Đó chính là vẻ đẹp đời sống bình dị, thân thuộc, gần gũi quanh ta như bãi bồi, bến sông mà mở rộng ra là quê hương, làng xóm. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành xòe nở ra một màu tím thẫm; tiếng đất đá lở bên bờ sông, những cơn lũ đầu nguồn đổ về lúc gần sáng… có ý nghĩa biểu tượng cho sự sống của Nhĩ rất mong manh, lóe lên rồi vụt tắt trong những ngày cuối cùng của cuộc đời….Hình ảnh đứa con trai sà vào trò chơi phá cờ thế trên dọc đường biểu tượng cho sự “chùng chình”, “vòng vèo” trong cuộc sống mà con người khó có thể tránh khỏi, rứt ra được….
Có thể nói, với truyện ngắn “Bến quê”, Nguyễn Minh Châu đã sử dựng ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật thật tinh tế, thấm đượm tinh thần nhân đạo. Nếu như các nhà văn xưa, khi đặt nhân vật trong hoàn cảnh phải đối diện giữa sự sống và cái chết thường hướng tới sức mạnh tinh thần, ý chí nghị lực để vươn lên, chiến thắng nỗi sợ hãi thông thường hay biểu trưng cho sự hi sinh lớn lao, cao cả , thiêng liêng như “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen – ri, “Tình yêu cuộc sống” của Giắc Lân – đơn … thì Nguyễn Minh Châu lại không đi theo cái lối mòn ấy mà lại lựa chọn và xây dựng lên một tình huống khác lạ, độc đáo: đặt nhân vật vào hoàn cảnh sắp từ giã cõi đời để hướng tới sự chiêm nghiệm triết lí về con người và cuộc đời. Bởi khi con người từng trải đang sống nốt những giây phút ít ỏi còn lại của mình thì mới đủ chín chắn và trưởng thành để có thể đưa ra những bài học có tính chất tổng kết một cách sâu sắc về cuộc đời con người được. Cách tư duy đó của nhà văn từ đó cũng giúp cho câu chuyện không chỉ tự nhiên mà còn trở nên thuyết phục, giàu tính nhân văn, nhân đạo hơn. Hay nói cách khác là nhà văn không trực tiếp giao giảng, áp đặt chân lí vào người đọc mà ngược lại thông qua một cuộc đời, một số phận con người để tự rút ra những suy ngẫm của riêng mình nhưng đó lại là suy nghĩ chung, phù hợp với tất cả mọi người. Vì vậy, tuy nhân vật Nhĩ là nhân vật tư tưởng nhưng đã không bị biến thành “cái loa phát thanh” cứng nhắc cho tác giả mà ngược lại số phận, hoàn cảnh của nhân vật lại là “công cụ” đắc lực hợp tình hợp lí để truyền tải tư tưởng của Nguyễn Minh Châu.
Tóm lại, truyện ngắn “Bến quê” rất tiêu biểu cho nghệ thuật trần thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu, có sự kết hợp khéo léo giữa tự sự, trữ tình và triết lí. Đồng thời cho thấy tài năng dựng truyện tự nhiên, hợp lí, cách miêu tả tâm lí nhân vật độc đáo, thể hiện được những suy ngẫm của nhân vật, kết hợp với những hình ảnh, chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng. Từ đó, làm nổi bật tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm. Khép lại “Bến quê” cũng như biết bao nhiêu những trang văn khác của Nguyễn Minh Châu, người đọc nhận ra những điều gửi gắm của nhà văn: con người cần phải nhìn lại mình, cần biết trân trọng những giá trị vững bền, bình dị của gia đình và quê hương mà ta đang có.
Loading...

Leave A Reply

Your email address will not be published.